Quảng Ninh - Quá trình hình thành và phát triển

Thứ bảy - 08/09/2018 12:23 66 0
Quàng Ninh - vùng đất của cư dân Việt cổ sinh sống, lập nghiệp và xây dựng nên các nền văn hóa hậu kỳ đá mới cách đây từ 3.500 năm đến 5.000 năm.
Quảng Ninh - Quá trình hình thành và phát triển
      + Năm 2879 TCN - 258 TCN: Thời Hùng Vương (2.622 năm), Quảng Ninh thuộc tinh Hải Ninh, nước Văn Lang.
      + Năm 257 TCN - 208 TCN: Thời nhà Thục (50 năm), thuộc bộ Ninh Hải, nước Nam Việt.
      + Năm 207 TCN - 111 TCN: Thời thuộc Triệu (97 năm), thuộc bộ Ninh Hải, nước Nam Việt.

      - Dưới thời Bắc thuộc, Quảng Ninh có lúc là quận, có lúc là huyện, với các tên gọi khác nhau. Thời kỳ Nhà Triệu cai trị, vùng Quảng Ninh thuộc bộ Ninh Hải. Thời kỳ nhà Ngô - Tấn cai trị, vùng Quảng Ninh thuộc quận Giao Chỉ; giai đoạn nhà Lương cai trị, vùng Quảng Ninh thuộc châu Hoàng, quận Ninh Hải; từ năm 603 (nhà Tuỳ cai trị) cho đến năm 939,vùng đất Quảng Ninh chủ yếu thuộc châu Lục.

      - Thời nhà Ngô, Đinh và Tiền Lê (939 - 1009), vùng Quảng Ninh thuộc trấn Triều Dương (cũng gọi là lộ).

      - Thời nhà Lý (1010 - 1025), đời Lý Thái Tổ năm Thuận Thiên 14, 1023 đổi trấn Triều Dương thành châu Vĩnh An.

      - Thời nhà Trần (1225 - 1400), đời Trần Thái Tông, năm Nhâm Dần 1242, Thiên ứng Chính binh thứ 11, đồi châu Vĩnh An thành lộ Hải Đông; đời vua Trần Nhân Tông, năm Ất Dậu 1285, Thiên Bảo năm thứ 7, đổi lộ Hải Đông thành lộ An Bang; Đời Trần Anh Tông, năm Đinh Sửu 1397, Quang Thái năm thứ 10, đổi lộ An Bang thành lộ phủ Tân An.

      - Thời nhà Hồ (1400 - 1407), Đời vua Hồ Hán Thương, năm Đinh Hợi 1407, Khai Đại năm thứ 4, đổi lộ phủ Tân An thành Châu Tĩnh An.

      - Thời nhà Lê, đời Lê Thái Tổ, năm Mậu Thân 1428, Thuận Thiên năm thứ nhất, cả nước chia thành 5 đạo, vùng Quảng Ninh thuộc Đông Đạo, Đời Lê Thánh Tông, năm Bính Tuất 1466, Quang Thuận năm thứ 7, vùng Quàng Ninh là đạo thừa tuyên An Bang (về đại thể thời kỳ này, vùng An Bang có 1 phủ (Hải Đồng), 3 huyện (An Hưng, Hoành Bồ, Chi Phong) và 4 châu (Vạn Ninh, Vĩnh An, Vân Đồn, Tân An).

      - Đời Lê Anh Tông, năm Đinh Tỵ - 1557, Thiên Hưu năm thứ nhất, vì tránh tên thật của vua (tên thật của vua là Lê Duy Bang), trấn An Bang đổi thành trấn An Quảng (gồm 1 phủ: Hải Đông, 3 huyện: Chi Phong, An Hưng, Hoành Bồ, 3 châu: Vạn Ninh, Vĩnh An, Vân Đồn).

      - Đời vua Lê Dụ Tông, năm Kỷ Sửu 1709, Vĩnh Thịnh năm thứ 5, chúa Trịnh Cương được phong tước An Đô Vương, nên các địa danh phải tránh chữ An và đọc thành Yên, trấn An Quảng đồi tên thành Yên Quảng (gồm 1 phủ: Hải Đông, 6 huyện: Chi Phong, Yên Hưng, Hoành Bồ, Thuỷ Đường, Kim Thành, An Dương và 3 châu: Vạn Ninh, Vĩnh An, Vân Đồn).

      - Thời kỳ nhà Nguyễn (1802-1945):
      + Đời Nguyễn Thánh Tổ, năm Nhâm Ngọ 1822, Minh Mạng năm thứ 3, đổi trấn Yên Quảng thành trấn Quảng Yên; năm Tân Mão 1831, Minh Mạng năm thứ 12, đổi trấn Quảng Yên thành tỉnh Quảng Yên.
      + Năm 1884, sau khi thực dân Pháp thiết lập chế độ cai trị trên đất nước ta, tỉnh Quảng Yên có hai phủ là phủ Sơn Định, gồm 3 huyện: Hoành Bồ, Yên Hưng, Nghiêu Phong (sau là Cát Hải) và phủ Hải Ninh, gồm hai châu: Tiên Yên và Vạn Ninh (sau tách thành châu Móng Cái và châu Hà Cối).
      + Ngày 20/8/1891, Phủ Toàn quyền Pháp ra Nghị định tách phủ Hải Ninh ra khỏi tỉnh Quảng Yên, lập khu quân sự Móng Cái; ngày 24/8/1891, Phủ Toàn quyền Pháp ra Nghị định tách huyện Lục Ngạn và Yên Bác từ tình Lục Nam, hợp với một phần huyện Hoành Bồ (tỉnh Quảng Yên) và huyện Đông Triều, huyện Chí Linh (Hải Dương) lập khu quân sự Phả Lại; cả hai khu quân sự Móng Cái và Phả Lại đều nằm trong Đạo quân binh thứ nhất.
      + Ngày 10/12/1906, Phủ Toàn quyền Pháp ra Nghị định tách phủ Móng Cái gồm 3 châu: Móng Cái, Hà Cối, Tiên Yên của tỉnh Quảng Yên, thành lập tỉnh mới lấy tên là tỉnh Hải Ninh; ngày 14/12/1912, Phủ Toàn quyền Pháp ra Nghị định xoá bỏ tỉnh Hải Ninh, lập Đạo quân Binh thứ nhất.

      - Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời. Thời điềm này, Quảng Ninh gồm 2 tỉnh Quảng Yên và Hải Ninh; do tính chất đặc biệt của Khu mỏ, để thuận lợi cho công tác chỉ đạo của Trung ương, ngày 19/7/1946, Bộ Nội vụ ra Quyết định tạm lập tại tỉnh Quảng Yên, Khu đặc biệt Hòn Gai chịu sự điều khiển, kiểm soát trực tiếp của Uỷ ban Hành chính Bắc Bộ.

      - Sau ngày toàn quốc kháng chiến, tháng 3/1947, Bộ Nội vụ ra Nghị quyết sáp nhập Khu đặc biệt Hòn Gai vào tỉnh Quảng Yên thành liên tỉnh Quảng Hồng; ngày 16/12/1948, Ủy ban Kháng chiến hành chính Liên khu I ra Quyết định số: 420PC/1 “Tách khu Hòn Gai ra khỏi địa giới tỉnh Quảng Hồng và đặt thành một đơn vị kháng chiến, hành chính đặc biệt gọi là Khu đặc biệt Hòn Gai; tỉnh Quảng Hồng nay lấy tên cũ là tỉnh Quảng Yên; Khu đặc biệt Hòn Gai đặt dưới sự kiểm soát của UBKC-HC Liên khu 1... Khu đặc biệt Hòn Gai (gọi tắt là Đặc khu Hòn Gai) gồm: Thị xã Hòn Gai, thị xã Cẩm Phả và huyện Cẩm Phả.

      - Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, miền Bắc được giải phóng, ngày 22/02/1955, Chủ tịch Hô Chí Minh ra sắc lệnh số 221-SL Thành lập khu Hồng - Quảng, đặt dưới quyền lãnh đạo trực tiếp cùa Chính phủ Trung ương, Khu Hồng Quàng gồm Đặc khu Hồng Gai và tỉnh Quảng Yên; theo sắc lệnh của Chủ tịch Nước, các huyện Kinh Môn, Nam Sách, Chí Linh được trả về tinh Hải Dương (Liên khu 3); huyện Sơn Động trả về tỉnh Bắc Giang (Liên khu Việt Bắc).

      - Khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh cùng nằm trên một dải đất vùng Đông Bắc Tổ quốc, trước năm 1906 cùng chung một đơn vị hành chính với tên gọi là tỉnh Quảng Yên. Sau khi thực dân Pháp xâm lược và thống trị nước ta, ngày 10/12/1906, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập tỉnh Hải Ninh tách từ tinh Quảng Yên ra. Để phù hợp với tình hình đặc điểm cùa từng giai đoạn, lịch sử tỉnh Quảng Yên khi tách ra thành hai đơn vị hành chinh: Tỉnh Quảng Yên và Đặc khu Hòn Gai (năm 1946), nhập lại thành Liên tỉnh Quảng Hồng (tháng 3/1947), rồi lại tách ra thành Đặc khu Hòn Gai và tỉnh Quảng Yên (tháng 12/1948). Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, tháng 02/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh kỷ sắc lệnh thành lập khu Hồng Quàng, trên cơ sở sáp nhập Đặc khu Hòn Gai và tỉnh Quảng Yên. Ngày 08/8/1954, tỉnh Hải Ninh hoàn toàn giải phóng; ngày 25/4/1955, Khu Hồng Quảng hoàn toàn giải phóng; Đảng bộ khu Hồng Quảng và Đảng bộ tỉnh Hải Ninh đã lãnh đạo nhân dân bắt tay vào thực hiện hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, cải tạo XHCN, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất.

      - Xét thấy việc hợp nhất khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh thành một đơn vị hành chính có nhiều điểm thuận lợi về kinh tế, quốc phòng, đầu tháng 7/1963, Ban Thường vụ Khu uỷ Hồng Quảng và Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Hải Ninh tổ chức Hội nghị liên tịch bàn và nhất trí đề nghị Trung ương hợp nhất khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh thành một đơn vị hành chính. Ngày 04/10/1963, Ban Bí thư Trung ương Đảng có Công văn gửi Ban Tổ chức Trung ương, Đảng đoàn Bộ Nội vụ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Thường vụ Khu uỷ Hồng Quảng và Tỉnh uỷ Hải Ninh về việc “Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định thống nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành một tỉnh” để nghiên cứu kế hoạch thi hành.

      Ngày 07/10/1963, Ban Thường vụ Khu uỷ Hồng Quảng và Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Hải Ninh họp Hội nghị liên tịch và ra Nghị quyết về việc hợp nhất. Theo nguyện vọng của Đảng bộ và nhân dân khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh, ngày 30/10/1963, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá II đã ra Nghị quyết, Quyết nghị phê chuẩn việc hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành tỉnh Quảng Ninh.

      Về sự kiện này, Bác Hồ đã gợi ý gọi là Quảng Ninh, do ghép chữ Quảng (của Hồng Quàng) và chữ Ninh (của Hải Ninh) mà thành; Bác bảo “Quảng Ninh còn có nghĩa là một vùng đất lớn an bình”; tiếp đó, ngày 18/11/1963, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 85-NQ/TW, quyết nghị hợp nhất hai Đảng bộ Hồng Quảng và Hải Ninh thành một Đảng bộ là “Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh”. Ngày 12/12/1963, Ban Thường vụ hai Đảng bộ Hồng Quảng và Hải Ninh đã họp hội nghị liên tịch bàn về công tác tổ chức thực hiện việc hợp nhất hai Đảng bộ thành “Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh”; cùng với việc hợp nhất hai Đảng bộ, các cơ quan Nhà nước của hai tỉnh cũng lần lượt được hợp nhất thành một; từ ngày 01/01/1964, tỉnh Quảng Ninh đi vào hoạt động chính thức; đánh dấu mốc rất quan trọng, để giai cấp công nhân và nhân dân các dân tộc Quảng Ninh bước vào thời kỳ cách mạng mới./.

Kim Khánh

Nguồn tin: Đề cương kèm theo Hướng dẫn số 238 - HD/BTG ngày 20/ 8/ 2018 của BTG Đảng ủy Than Quảng Ninh

Ghi rõ nguồn "Than Thống Nhất - TKV" và dẫn đến URL nguồn tin khi phát hành lại thông tin từ website này!

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

VĂN BẢN

CHỈ ĐẠO - ĐIỀU HÀNH

8907/QĐ-VTNC

Quy định Bồi dưỡng nghề - thi nâng bậc cho Công nhân kỹ thuật trong Công ty Than Thống Nhất - TKV

lượt xem: 70 | lượt tải:38

1768/QĐ-TKV

Sửa đổi, bổ sung mức tiền lương tại Quyết định số 279/QĐ-TKV ngày 23/02/2017 và 1699/QĐ-TKV ngày 12/9/2017 của Tập đoàn

lượt xem: 113 | lượt tải:49

7766/QĐ-VTNC

Quy định xử lý kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất trong công tác AT-VSLĐ

lượt xem: 203 | lượt tải:84

105/2018/NĐ-CP

Điều lệ tổ chức và hoạt động của TKV

lượt xem: 172 | lượt tải:127

4892-KHLT/GĐ-CĐ-VTNC

KHLT Nghỉ hưu trước tuổi do đổi mới cơ cấu lao động đợt II năm 2018

lượt xem: 153 | lượt tải:74

2136/TKV-TCNS

TKV triển khai Thỏa ước Lao động tập thể và Nội quy Lao động năm 2018

lượt xem: 638 | lượt tải:361
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập136
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm135
  • Hôm nay30,290
  • Tháng hiện tại527,407
  • Tổng lượt truy cập8,722,300
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây