Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
AT DM HQ

Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Thứ bảy - 09/09/2017 23:00

Quảng Ninh có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng, có nhiều loại đặc thù, trữ lượng lớn, chất lượng cao mà nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước không có được trong đó có tới 90% trữ lượng than của cả nước thuộc về tỉnh Quảng Ninh. Đây chính là đặc điểm hình thành vùng công nghiệp khai thác than từ rất sớm. Vùng khai thác than, chế biến, tiêu thụ than có phạm vi rất lớn, trải dài từ Đông Triều, Uông Bí, Hoành Bồ, Hạ Long và Cẩm Phả. Tuy nhiên, hoạt động khai thác than luôn có những diễn biến phức tạp, gây tác động xấu đến môi trường.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

      Để thực hiện đúng các quy định của pháp luật bảo vệ môi trường và chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, hạn chế các tác động xấu của quá trình sản xuất kinh doanh đến môi trường, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, tích cực trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; nâng cao nhận thức, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn và kiểm soát ô nhiễm, đảm bảo cho sự phát triển bền vững, mới đây Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã ban hành văn bản số 4049/TKV-MT về việc tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

      Theo đó, Tập đoàn TKV đề nghị các đơn vị quan tâm đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường; chấn chỉnh, tăng cường chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công cụ, biện pháp bảo vệ môi trường; nâng cao năng lực quản lý nhà nước, huy động nguồn lực cho bảo vệ môi trường…và thực hiện tốt những công việc chủ yếu sau:
      - Hoàn thiện hồ sơ, thủ tục pháp lý về bảo vệ môi trường.
      - Thu gom, xử lý nước thải, nước mưa chảy tràn.
      - Xử lý khí thải (nhà máy nhiệt điện, xi măng, luyện kim, hóa chất cơ khí, lò hơi, lò đốt).
      -  Thu gom, xử lý chất thải nguy hại.
      - Thu gom, xử lý chất thải rắn thông thường.
      -  Kiểm tra, củng cố, đảm bảo an toàn đập hồ chứa (hồ chứa nước, hồ thải quặng đuôi, hồ bùn đỏ, hồ thải xỉ, đập ngăn đất đá bãi thải, đập hồ chứa khác).
      - Phòng ngừa, ứng phó sự cố rò rỉ hóa chất (nhà máy hóa chất, luyện kim).
      - Đảm bảo an toàn bãi thải đất đá (mỏ than, khoáng sản).
      - Tăng cường công tác chống bụi, vệ sinh công nghiệp

      Trong đó, TKV yêu cầu các mỏ than, khoáng sản kiểm tra, rà soát, củng cố đảm bảo các thông số kỹ thuật, ổn định của các bãi thải đang hoạt động. Thực hiện đổ thải tầng thấp theo đúng quy hoạch, thiết kế, xây dựng, củng cố đê đập chắn đất đá chân bãi thải, hệ thống thoát nước bãi thải để chống trôi lấp đất đá, đảm bảo an toàn bãi thải. Ưu tiên, tập trung đổ thải kết thúc trước các khu vực bãi thải gần dân cư, đô thị đặc biệt là các bãi thải đất đá mỏ than để sớm cải tạo phục hồi môi trường, giảm thiểu ảnh hưởng và đảm bảo an toàn cho môi trường, dân cư.

      Đồng thời, các đơn vị khai thác cũng cần tăng cường công tác cải tạo, phục hồi môi trường và trồng cây phủ xanh các khu vực bãi thải đã kết thúc đổ thải, trong đó ưu tiên trồng các loại cây phát triển nhanh (Keo lai, Keo lá tràm, Phi lao..) xen với các loại cây lâu năm (Thông, Phi lao…) để nhanh chóng phủ xanh, hạn chế xói mòn, ổn định bãi thải, có tính cho mục tiêu lâu dài…Đẩy mạnh công tác tưới nước dập bụi bằng ô tô trên các tuyến đường vận chuyển. Đối với khu vực sàng tuyển, kho đống, mặt bằng sản xuất, nghiên cứu sử dụng phương pháp chống bụi bằng phun sương cao áp kết hợp với lưới chắn bụi; làm tường chắn, lưới chắn bao quanh khu vực sàng tuyển, kho đống,  mặt bằng sản xuất…

      Ngoài các công việc chủ yếu nêu trên, Tập đoàn TKV còn yêu cầu các đơn vị thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các biện pháp bảo vệ môi trường khác theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường, các bộ luật liên quan khác cùng các văn bản hướng dẫn kèm theo.
 

Trạm xử lý nước thải +25 Núi Nhện - Công ty Than Thống Nhất - TKV


      Có thể nói, đây là hoạt động tích cực của Tập đoàn TKV về việc tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong hoạt kinh doanh than của mình nhằm thực tế hóa đề xuất mà TKV đã nêu ra trong “Đề án đảm bảo môi trường cấp bách ngành Than trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016 – 2020” như : Năm 2017 sẽ triển khai cải tạo phục hồi môi trường khoảng 190 ha các bãi thải: Chính Bắc Núi Béo, Đông Cao Sơn, Hà Ráng; ưu tiên đổ thải kết thúc các khu vực bãi thải nhìn được từ quốc lộ 18A (khu vực Mông Dương bãi thải Đông Cao Sơn dự kiến đến hết năm 2020; khu vực Giáp Khẩu và Đông Nam bãi thải Chính Bắc Núi Béo dự kiến hết năm 2018…). Tiếp tục đầu tư xây dựng các tuyến băng tải để đến năm 2020 cơ bản than được vận chuyển ra cảng và các nhà máy điện bằng băng tải; xây dựng cầu vượt nút giao cắt đường Bàng Nâu - Khe Dây với quốc lộ 18A…

      
Do tốc độ khai thác than tăng nhanh nhưng các doanh nghiệp thuộc TKV lại không đầu tư thiết bị sản xuất tương xứng và hoàn nguyên môi trường sau khai thác. Điều đó, đã làm cho môi trường ở Quảng Ninh bị huỷ hoại, tàn phá nặng nề, và người dân nơi đây đang từng ngày phải đương đầu, gánh chịu hậu quả.

      Việc khai thác than trong nhiều năm qua, đã gây ra những biến động xấu về môi trường. Tại các vùng khai thác than đã xuất hiện những núi đất, đá thải cao gần 200m, những moong khai thác sâu khoảng 100m. Để sản xuất 1 tấn than, cần bóc đi từ 8 đến 10 m3 đất phủ, thải từ 1 đến 3 m3 nước thải mỏ. Khối lượng chất thải rắn và nước thải mỏ gây ô nhiễm nặng cho vùng mỏ. Một vài vùng ô nhiễm đã đến mức báo động như Mạo Khê, Uông Bí, Cẩm Phả…

      Việc khai thác than ở Quảng Ninh đã phá huỷ hàng trăm km2 rừng, tạo ra xói mòn, bồi lấp ở các sông suối và làm ô nhiễm vịnh Hạ Long. Một số mỏ than còn sử dụng công nghệ khai thác lạc hậu, thiếu chương trình khoa học tổng thể để xác định sự cần thiết về tăng trưởng công suất cho phù hợp với các yêu cầu bảo vệ môi trường. Do đó, môi trường đã chịu ảnh hưởng nặng nề bởi những tác động xấu, nước bị ô nhiễm nặng bởi chất thải rắn lơ lửng, vi trùng và bụi trong không khí v.v…

      Để có sản lượng nhảy vọt, vượt công suất thiết kế, nhiều đơn vị đã chạy đua lộ thiên hoá dù đã được quy hoạch là khai thác theo công nghệ hầm lò. Trong khi đó, công nghệ khai thác lộ thiên được đánh giá là gây tác hại rất lớn về ô nhiễm môi trường, hạn chế độ sâu khai thác. Đến thời điểm này, nhiều mỏ lộ thiên đã âm quá giới hạn cho phép là -300m (so với mặt biển), nhưng vẫn tiếp tục khoan thăm dò khai thác, bất chấp những tác hại về cấu tạo địa chất, làm tiền đề cho những thảm họa khác như lở đất, nhiễm mặn và biến đổi sinh thái.

      Hiện nay trong khu vực Hòn Gai – Cẩm Phả có khoảng 30 mỏ than lớn nhỏ đang hoạt động, bình quân khoảng 2.000ha, có 1 mỏ với tổng diện tích là 175km2, chiếm 28,7% tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố Hạ Long và thành phố Cẩm Phả. Trong giai đoạn 1970 – 1997, các hoạt động khai thác than ở Hòn Gai, Cẩm Phả  đã làm mất khoảng 2.900ha đất rừng các loại (trung bình mỗi năm mất 100 – 110ha) , trong đó khoảng 2.000ha bị mất do mở vỉa, đổ đất đá thải. Độ che phủ rừng tự nhiên từ 33,7% năm 1970 giảm xuống 6,7% (1985) và 4,7% (1997)

      Bảng 3. Biến động độ che phủ rừng khu vực Hòn Gai – Cẩm Phả (Đơn vị: %)  

 


      Tại khu vực Cẩm Phả, trước năm 1975 việc khai trường được mở rộng chủ yếu về phía tây – nam (khoảng 100ha) và phía tây (25ha). Sau 1975 việc khai trường và bãi thải phát triển về phía bắc khoảng 435 ha, phía tây – bắc 265 ha và phía đông 75 ha (Bảng 4).
 

      Bảng 4. Diện tích khai trường, bãi thải và diện tích đổ thải ra vùng biển Cẩm Phả (Đơn vị: ha)
 


      Một trong những địa phương chịu ảnh hưởng nặng nhất, đó là Thị xã Đông Triều, vùng trọng điểm lúa của tỉnh. đang đối mặt với gần 7.000 ha lúa và hoa màu ở Đông nạm hạn hán và thiếu nước nghiêm trọng  trong khi nhiều hồ thủy lợi lớn bị ô nhiễm, tài nguyên rừng bị suy thoái , gây cạn kiệt dòng sinh thuỷ, gây ngập úng và hạn hán cục bộ, làm bồi lắng lòng hồ, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống dân sinh các khu vực lân cận. Trong tổng số 25 hồ chứa nước ở thị xã Đông Triều đã có gần một nửa bị bồi lấp, nguồn nước bị chua hoá từ quá trình sản xuất than gây ra, trong đó có nhiều hồ bị chua hoá nặng, độ PH đều ở mức dưới 3,5 (PH tiêu chuẩn từ 5 – 5,5). Tình trạng ô nhiễm nguồn nước đang âm thầm huy hoại năng suất cây trồng, vật nuôi và nguy cơ bị cắt đứt toàn bộ nguồn thuỷ sản trong tương lai gần./.

 

Tác giả bài viết: Vũ Thủy


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

 Ẩn/Hiện ý kiến

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Kỷ luật - Đồng tâm
THỐNG KÊ TRUY CẬP
  •   Đang truy cập 66
  •   Máy chủ tìm kiếm 2
  •   Khách viếng thăm 64
 
  •   Hôm nay 2,711
  •   Tháng hiện tại 53,261
  •   Tổng lượt truy cập 3,179,273
Người tốt việc tốt
Tổng hợp kết quả SXKD
Tính đến ngày 17/9/2017
- Than sản xuất: 76.094 tấn/KH 150.000 tấn đạt 50,72 %
- Đào lò:
+) Đào lò CBSX:
290,9/KH 755m đạt 38,52%
+) Đào lò XDCB: 30,8/KH 30m đạt 102,0%
- Chống xén: 276,/KH 560m đạt 49,37%.
- Tiêu thụ: 68.945 tấn/KH 149.800 tấn đạt 46,02%
- Doanh thu: 64.593tr. đồng /KH 139.408,58tr. đồng đạt 46,33%.
 
Với các chỉ tiêu chính như than sản xuất, Đào lò XDCB, chống xén, tiêu thụ và doanh thu Công ty đều thực hiện đạt kế hoạch theo thời gian./.