Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
AT DM HQ

Nghị quyết số 17-NQ/ĐU của Ban Thường vụ Đảng ủy Tập đoàn TKV về việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác an toàn lao động trong Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, giai đoạn 2017 - 2020

Thứ sáu - 03/03/2017 05:31

LTS: Ngày 01/3/2017, đồng chí Lê Minh Chuẩn - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn đã ký ban hành Nghị quyết số 17-NQ/ĐU của Ban Thường vụ Đảng ủy Tập đoàn về việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác an toàn lao động trong Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, giai đoạn 2017 - 2020. Tạp chí Than - Khoáng sản Việt Nam xin đăng toàn văn Nghị quyết như sau:

      Trong những năm qua, công tác đảm bảo An toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) trong Tập đoàn luôn được đặt lên hàng đầu. Tập đoàn đã tập trung đầu tư lớn về nguồn lực (cả về tài chính, nhân lực) cho công tác ATVSLĐ. Vì thế, những năm gần đây, công tác ATVSLĐ đã có nhiều chuyển biến tích cực. Điều kiện làm việc, môi trường lao động từng bước được cải thiện, góp phần bảo vệ sức khỏe người lao động hạn chế tai nạn lao động (TNLĐ), bệnh nghề nghiệp (BNN) và các vụ cháy nổ.

      Tuy nhiên hiệu quả của công tác ATVSLĐ chưa được ổn định. Trong năm 2016, mặc dù các chỉ tiêu sản xuất của Tập đoàn không tăng so với năm 2015 (nhiều đơn vị còn giảm sản lượng), đầu tư cho công tác ATVSLĐ toàn Tập đoàn năm 2016 là không nhỏ (trên 950 tỷ đồng) nhưng công tác ATVSLĐ không đạt được mục tiêu đề ra: Số vụ TNLĐ, số người bị TNLĐ tăng hơn năm 2015. Đây là hạn chế tồn tại lớn nhất của Tập đoàn trong năm 2016 mà ngoài nguyên nhân khách quan có những nguyên nhân chủ quan là:

- Công tác tuyên truyền giáo dục về ý thức tự chủ an toàn cho người lao động có nơi, có lúc còn hạn chế, một số bộ phận người lao động chưa ý thức đầy đủ trong việc chấp hành quy trình, quy chuẩn, quy định an toàn, còn tình trạng làm bừa, làm ẩu hoặc chạy theo sản lượng.

- Công tác lập thiết kế, biện pháp thi công còn một số hạn chế như còn nhiều điểm chưa phù hợp với thực tế sản xuất, chưa có đầy đủ biện pháp an toàn.

- Trong công tác chỉ đạo sản xuất, một số cán bộ chỉ đạo trực tiếp sản xuất cấp phân xưởng chưa sâu sát từ việc ra lệnh sản xuất (nhật lệnh, ca lệnh), bàn giao ca còn chung chung, thiếu biện pháp an toàn; kiểm tra hiện trường chưa sâu sát, chưa phát hiện được các nguy cơ mất an toàn để có biện pháp ngăn ngừa kịp thời.

- Công tác kiểm tra: Các đơn vị trong Tập đoàn đều tổ chức kiểm tra hiện trường sản xuất với số lượng nhiều, mật độ dầy nhưng phương pháp kiểm tra có nơi, có lúc không hiệu quả nên chưa phát hiện hết các vi phạm, các nguy cơ có thể gây TNLĐ, sự cố để có biện pháp khắc phục; trình độ, kỹ năng của người làm công tác kiểm tra còn hạn chế, còn nể nang chưa kiên quyết trong việc xử lý vi phạm.

- Một số đơn vị (đặc biệt là các đơn vị ngoài hầm lò) còn có biểu hiện chủ quan nên chưa quan tâm đầy đủ đến công tác đảm bảo an toàn trong sản xuất.Vì thế trong năm 2016, số vụ TNLĐ ngoài lò tăng nhiều so với năm 2015.

      Năm 2017 và các năm tới, kế hoạch sản xuất của Tập đoàn cao hơn những năm qua. Trong khi đó, điều kiện khai thác mỏ ngày càng khó khăn hơn do tài nguyên ngày càng xuống sâu, vào xa hơn. Do vậy công tác đảm bảo ATVSLĐ phải được thực hiện quyết liệt hơn, hiệu quả hơn. Tập đoàn luôn xác định: Công tác đảm bảo ATVSLĐ là nhiệm vụ hàng đầu của cả hệ thống chính trị, do vậy cần phải nâng cao hơn nữa hiệu quả lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và hệ thống chính trị từ Tập đoàn đến các đơn vị thành viên.

      Để tăng cường và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, vai trò, trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân trong việc đảm bảo ATVSLĐ trong giai đoạn 2017 - 2020 với mục đích tiếp tục cải thiện điều kiện làm việc, phòng ngừa TNLĐ, BNN và bảo đảm môi trường lao động ngày càng tốt hơn, Ban Thường vụ Đảng ủy Tập đoàn yêu cầu các cấp ủy Đảng, giám đốc các đơn vị thành viên và các tổ chức chính trị - xã hội trong Tập đoàn tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt các nội dung cụ thể sau:

I. MỤC TIÊU:

- Nâng cao hiệu quả của công tác ATVSLĐ: Số vụ TNLĐ, nhất là số người bị chết do TNLĐ năm sau giảm thấp hơn so với năm trước. Đặc biệt, không để xảy ra các vụ TNLĐ có tích chất thảm họa.

- Làm cho người lao động tự giác thực hiện các quy trình công nghệ, quy phạm kỹ thuật và tiêu chuẩn quốc gia về ATLĐ để tự bảo vệ mình, bảo vệ đồng đội.

II. NHIỆM VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP:

1. Các cấp ủy Đảng:

1.1 Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 18/9/2013 của Ban Bí thư Trung ương Ðảng và Kế hoạch triển khai thực hiện của Đảng uỷ Tập đoàn số 1193-KH/ĐU ngày 13/12/2013 về đẩy mạnh công tác ATVSLĐ-PCCN trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Mỗi Chi, Đảng bộ cơ sở phải ban hành Nghị quyết chuyên đề để lãnh đạo công tác ATVSLĐ-PCCN, thường xuyên sơ, tổng kết rút kinh nghiệm để lãnh đạo làm tốt hơn.

1.2 Tăng cường lãnh đạo thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về ATVSLĐ-PCCN từ việc huấn luyện theo quy định, đến lập hồ sơ quản lý kỹ thuật, công tác tổ chức sản xuất, kiểm tra giám sát thi công ở tất cả các loại hình sản xuất (cả trong và ngoài hầm lò) và phổ biến đầy đủ đến người lao động; thực hiện tự kiểm tra, tự cải thiện điều kiện về ATVSLĐ; thực hiện đúng các chế độ chính sách đối với người lao động làm công việc nặng nhọc, độc hại; chăm sóc, khám sức khỏe định kỳ, điều trị, điều dưỡng đối với người lao động theo hướng dẫn của các cơ quan chức năng.

1.3 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, vận động cán bộ, đảng viên gương mẫu đi đầu trong thực hiện đầy đủ công tác ATVSLĐ, đồng thời vận động quần chúng thực hiện đầy đủ công tác ATVSLĐ. Coi đây là một nội dung trong thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo tinh thần Chỉ thị 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đưa việc nhắc nhở, kiểm điểm thực hiện và gương mẫu thực hiện các quy định về công tác ATVSLĐ vào sinh hoạt chi bộ thường kỳ.

      Nếu đơn vị để xảy ra TNLĐ, sự cố thì cấp ủy đơn vị và trước hết là người đứng đầu cấp ủy cùng phải chịu trách nhiệm trước cấp ủy cấp trên.

       Ban An toàn phối hợp với Viện Khoa học công nghệ mỏ phân tích rõ nguyên nhân, biện pháp phòng tránh TNLĐ lặp lại của các vụ TNLĐ nghiêm trọng trên Tạp chí Thông tin khoa học công nghệ mỏ. Tạp chí Than - Khoáng sản tập trung tuyên truyền, biểu dương những đơn vị, cá nhân làm tốt công tác ATVSLĐ, phê phán những cán bộ, công nhân vi phạm quy trình, quy phạm kỹ thuật, gây TNLĐ cho bản thân và đồng đội.           

2. Cơ quan điều hành Tập đoàn và các đơn vị thành viên trong Tập đoàn:

2.1 Đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị của các bộ, ngành Trung ương về việc tăng cường chỉ đạo và tổ thực hiện ATVSLĐ trong sản xuất. Tổ chức học tập và tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng các quy định của pháp luật về ATVSLĐ đến các cơ sở sản xuất, nhằm nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành, người sử dụng lao động và người lao động về các nguy cơ có thể gây ra sự cố, TNLĐ, BNN. Khắc phục ngay những hạn chế tồn tại về công tác ATVSLĐ năm 2016 đã được chỉ ra, đặc biệt là các đơn vị đã để xẩy ra TNLĐ chết người và xảy ra nhiều TNLĐ nặng năm 2016, không được chủ quan ở mọi lĩnh vực sản xuất.

2.2 Thực hiện nghiêm kết luận của Tổng giám đốc Tập đoàn tại hội nghị kiểm điểm công tác an toàn năm 2016 (Số 16/TB-TKV ngày 03/02/2017) trong đó đặc biệt lưu ý:

- Tiếp tục rà soát, chỉnh sửa, bổ sung các quy định, quy chế quản lý công tác ATVSLĐ, nhằm đảm bảo hiệu quả quản lý trong toàn Tập đoàn. Tiếp tục rà soát về cơ cấu tổ chức, chức trách nhiệm vụ của Thanh tra an toàn, đồng thời nâng cao năng lực công tác và kỹ năng làm việc cho cán bộ làm công tác an toàn từ các đơn vị đến Tập đoàn.

- Các biện pháp đảm bảo ATVSLĐ-PCCN phải được xuất phát từ công tác kỹ thuật, thông qua các thiết kế, biện pháp thi công. Các Ban chuyên môn của Tập đoàn phải kiểm tra, chỉ đạo ngành dọc tại các đơn vị thường xuyên rà soát, hoàn thiện các quy trình, quy định, hồ sơ quản lý kỹ thuật an toàn; nâng cao chất lượng công tác lập, duyệt thiết kế kỹ thuật, biện pháp thi công để đảm bảo phải chi tiết, cụ thể đầy đủ biện pháp an toàn và phù hợp với thực tế thi công; nâng cao kỹ năng kiểm tra hiện trường sản xuất, tăng cường kiểm tra đột xuất phát hiện kịp thời các vi phạm, nguy cơ gây mất an toàn để có biện pháp ngăn ngừa; xử lý nghiêm những người vi phạm.

- Tiếp tục đầu tư áp dụng các công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại vào sản xuất để tăng năng suất lao động, nâng cao mức độ an toàn, kiên quyết loại bỏ các công nghệ có nguy cơ mất an toàn cao trong tất cả các loại hình sản xuất (trừ khi chưa có công nghệ tiên tiến hơn thay thế). Các nhà máy (nhiệt điện, tuyển than, Alumina, tuyển đồng, Amôn Nitrat, Ferocrom, hoá chất…) phải rà soát lại thiết bị, dây chuyền công nghệ để kiểm tra bảo dưỡng hoặc thay thế đề phòng sự cố chập cháy, nổ, ô nhiễm môi trường. Nghiên cứu, đề xuất các đề tài khoa học kỹ thuật về công tác an toàn cho tất cả các lĩnh vực sản xuất.

- Thường xuyên rà soát bổ sung phư­ơng án ứng cứu sự cố, tìm kiếm cứu nạn, phương án PCCN, PCTT-TKCN (chú ý phương án phối hợp với các lực lượng của địa phương, với đơn vị bạn trên địa bàn); chú trọng đầu tư thiết bị, phương tiện cứu hộ, cứu nạn, đồng thời nâng cao kỹ năng ứng cứu sự cố, tìm kiếm cứu nạn cho lực lượng cấp cứu chuyên nghiệp của Tập đoàn và lực lượng cấp cứu bán chuyên của các đơn vị trong Tập đoàn.

- Đẩy mạnh tuyên truyền về công tác ATVSLĐ bằng các phương tiện trực quan như panô, áp phích, khẩu hiệu, loa truyền thanh của đơn vị, hô khẩu hiệu an toàn đầu ca ...

- Các đơn vị phải xây dựng quy định về xử lý trách nhiệm trong công tác ATVSLĐ của đơn vị mình trên cơ sở cụ thể hóa Quy định số 1941/QĐ-TKV ngày 03/9/2014 của HĐTV Tập đoàn.

- Tổ chức phát động Tháng hành động về ATVSLĐ lần thứ nhất năm 2017 tới toàn thể các đơn vị trong Tập đoàn với chủ đề: "Thúc đẩy công tác huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động để phòng ngừa các tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp”. Hưởng ứng các chỉ đạo của bộ, ngành trung ương về tổ chức phát động Tháng hành động về ATVSLĐ hằng năm.

- Định kỳ sơ kết, tổng kết công tác ATVSLĐ. Xử lý kịp thời, triệt để các vi phạm; khen thưởng kịp thời các cá nhân, tập thể có công phát hiện, xử lý các nguy cơ TNLĐ.

2.3  Ðối với sản xuất hầm lò:

- Phải kiểm soát bằng được về khí mỏ, áp lực mỏ, nước mỏ trong quá trình sản xuất để đảm bảo an toàn. Tại các khu vực, các đường lò đã dừng sản xuất, các đường lò tạm dừng sản xuất phải được xây tường cách ly theo quy định, không được để xảy ra TNLĐ do ngạt khí. Nếu đơn vị nào để người lao động đi vào đường lò không được thông gió, không có tường chắn cách ly, xảy ra tai nạn thì giám đốc đơn vị là người đầu tiên chịu kỷ luật.

- Tiếp tục tổ chức rà soát, thống kê, cập nhật, xây dựng hồ sơ quản lý an toàn mỏ, đánh giá điều kiện an toàn mỏ; quản lý hồ sơ về các vụ sự cố, tai nạn, về các nguy cơ, hiện t­ượng bất thư­ờng đã xảy ra như­: áp lực mỏ, phay phá, bục nước, cháy nổ khí, cháy vỉa than từ trước đến nay, để khoanh vùng, dự báo và có các biện pháp phòng ngừa đảm bảo an toàn. Các đơn vị cùng với các đơn vị tư vấn phải có giải pháp đảm bảo an toàn khi khai thác các vùng có nguy cơ bục nước, không đảm bảo an toàn thì không khai thác, không được để bục nước tái diễn như ở Công ty than Hòn gai, Công ty than Khánh Hòa trong năm qua.

- Đảm bảo an toàn nổ mìn trong hầm lò: Công tác phá vỡ than, đất đá trong hầm lò hiện nay đang dùng phương pháp khoan nổ mìn và đã xảy ra nhiều tai nạn ở các đơn vị. Để đảm bảo an toàn trong việc nổ mìn, các đơn vị phải thực hiện:

       Tổng Công ty Hoá chất mỏ cùng Trung tâm AT mỏ chịu trách nhiệm kiểm soát về chất lượng thuốc nổ và các phụ kiện nổ đảm bảo an toàn, loại trừ được nguyên nhân bị TNLĐ do chất lượng VLN không đảm bảo an toàn.

      Các đơn vị sử dụng VLN phải rà soát để chấn chỉnh công tác thi công, kíp điện phải được đo, phân loại điện trở; thường xuyên huấn luyện, sát hạch lại người chỉ huy nổ mìn, thợ mìn về chức năng, nhiệm vụ và việc lập, thực hiện hộ chiếu nổ mìn; sử dụng máy nổ mìn có đo được điện trở mạng nổ; chú ý công tác đo kiểm tra khí, tránh mìn, gác mìn, nạp mìn, đấu nối mạng nổ (tránh để sót), kiểm tra sau nổ mìn (không rút, dứt dây mìn), xử lý mìn câm theo đúng quy định.

-Tiếp tục chỉ đạo và có các biện pháp quyết liệt đối với công tác quản lý, chỉ huy sản xuất trực tiếp của cán bộ công nhân cấp công trường, phân xưởng trong lĩnh vực ATVSLÐ gồm: Yêu cầu công nhân thực hiện nghiêm túc nội quy lao động, quy trình, quy định an toàn; cán bộ phải dự báo được các nguy cơ, rủi ro để có biện pháp phòng tránh và chỉ đạo công nhân làm việc đảm bảo an toàn; tăng cường công tác kiểm tra biện pháp thi công, các vị trí có nguy cơ cao; công tác ra lệnh sản xuất, bàn giao ca phải cụ thể về diễn biến sản xuất trong ca, các vấn đề ca sau cần lưu ý; đồng thời thực hiện nghiêm túc các giải pháp, biện pháp thi công, hộ chiếu kỹ thuật, công tác nghiệm thu sản phẩm, nghiệm thu sau lắp đặt thiết bị.

      Tiếp tục quan tâm cải thiện điều kiện làm việc trong hầm lò đảm bảo an toàn (cả về không gian, ánh sáng, điều kiện vi khí hậu); quan tâm chăm sóc sức khoẻ người lao động, đặc biệt là công nhân làm việc trong hầm lò từ khâu tắm giặt, ăn, ở, đi lại, chế độ nghỉ ngơi phù hợp đối với thợ lò.

2.4 Ðối với sản xuất lộ thiên:

      Phải quan tâm phòng ngừa các nguy cơ gây mất an toàn từ khâu đảm bảo an toàn thiết bị trước khi làm việc đến công tác khoan, nổ, bốc xúc, chất tải, vận tải, đổ thải. Đặc biệt chú ý:

- Nguy cơ trượt lở tầng khai thác gây nên chập tầng do điều kiện địa chất biến động, do mưa bão; điều kiện khai thác chật hẹp, đặc biệt là ở các lộ vỉa nhỏ, các mỏ có nhiều biến động về địa chất vỉa than, các mỏ sắp kết thúc khai thác.

- Nguy cơ gây sự cố ở các bãi thải do bề mặt bãi thải chật hẹp, kích thước bờ chắn an toàn không đảm bảo, nhiều loại phương tiện cơ giới cùng hoạt động, nhiều đơn vị cùng tham gia đổ thải, chiếu sáng bãi thải và đảm bảo ANTT, giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong vận chuyển than, đổ thải đất đá.

- An toàn vận chuyển do vi phạm Luật giao thông đường bộ, không làm chủ tốc độ, không đảm bảo khoảng cách an toàn, đường trơn trượt, thiếu ánh sáng...; sự cố thiết bị do công tác kiểm tra, kiểm tu, bảo dưỡng không đảm bảo.

2.5 Đối với công nghiệp điện:

      Phải quan tâm phòng ngừa các nguy cơ mất an toàn, gồm: sự cố chập cháy trong nhà ắc quy; sự cố sạt lở bãi thải xỉ, sự cố khi sửa chữa, vệ sinh công nghiệp lò hơi, bỏng do hơi quá nhiệt, điện giật, sự cố khí Clo - khí Hyđro, sự cố đuối nước và quan tâm thực hiện tốt công tác PCCC trong các nhà máy điện theo các văn bản chỉ đạo của Tập đoàn; nghiên cứu tự động hóa dây chuyền thiết bị trong đó có thiết bị đảm bảo an toàn PCCC, giảm số người, tối ưu hóa dây chuyền sản xuất.

2.6 Ðối với sản xuất cơ khí:

      Quan tâm phòng ngừa nguy cơ gây mất an toàn về công nghệ sửa chữa và chế tạo thiết bị, máy công cụ phục vụ gia công cơ khí, công tác an toàn trong quản lý sử dụng thiết bị áp lực; phải lưu ý biện pháp phòng ngừa các nguy cơ mất an toàn do điện giật, do ngã cao, bỏng nhiệt, sự cố do máy mài hai đá, sự cố do vận chuyển vật tư, thiết bị và tăng cường năng lực trong công tác tư vấn thiết kế cơ khí mỏ.

2.7 Ðối với sản xuất khoáng sản - hoá chất:

- Cần thường xuyên tổ chức việc huấn luyện cho cán bộ chỉ huy sản xuất kỹ năng phòng ngừa nguy cơ gây mất an toàn khi nạp nổ mìn để chủ động xử lý khi gặp thời tiết thay đổi bất thường; kỹ năng thực hiện biểu đồ tổ chức sản xuất, kỹ năng viết và triển khai lệnh sản xuất, đảm bảo đúng nội dung, sát thực với yêu cầu và điều kiện sản xuất; đồng thời tăng cường công tác huấn luyện, diễn tập thủ tiêu sự cố trong các nhà máy hóa chất để người lao động nắm vững kỹ năng ứng xử, quy tắc hành động và thoát hiểm khi cần thiết.

- Phải tiếp tục quan tâm phòng ngừa nguy cơ mất an toàn lao động, sự cố gây ô nhiễm môi trường trong các Nhà máy sản xuất Alumin, Amôn Nitrat, Ferocrom (do mới đưa vào sản xuất, công tác quản lý kỹ thuật, sản xuất, quản lý ATVSLĐ-PCCN còn nhiều hạn chế); công nhân, cán bộ còn thiếu kinh nghiệm, kỹ năng trong chỉ huy điều hành công việc; phòng ngừa các nguy cơ mất an toàn do sạt lở bãi thải, ngộ độc hoá chất, điện giật, ngã cao, sự cố môi trường do quản lý hoá chất và chất thải nguy hại.

3. Đối với tổ chức Công đoàn:

      Công đoàn các cấp phải là người đồng hành cùng bộ máy quản lý điều hành trong công tác ATVSLĐ. Công đoàn phải đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền vận động đoàn viên công đoàn, người lao động nâng cao ý thức tự chủ về công tác an toàn, phát động phong trào thực hiện ATVSLĐ-PCCN trong sản xuất, bảo vệ môi trường và sức khỏe của đoàn viên. Tổ chức Công đoàn nghiên cứu, thống nhất với cơ quan quản lý để có hình thức phối hợp trong việc cộng quản, cùng chịu trách nhiệm đối với việc thực hiện công tác ATVSLĐ ở đơn vị.

4. Tổ chức Đoàn thanh niên:

      Các cấp bộ Đoàn tiếp tục tăng cường, chủ động đổi mới nội dung, hình thức tổ chức tuyên truyền, vận động, giáo dục và tổ chức các hoạt động cho đoàn viên thanh niên theo Chỉ thị số 10-CT/ĐU ngày 10/10/2016 của Ban Thường vụ Đảng ủy Tập đoàn về việc tiếp tục thực hiện nghị quyết 07-NQ/ĐU ngày 24/7/2012 của Đảng ủy Tập đoàn về ”Tăng cường lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác Đoàn và phong trào thanh niên trong tình hình mới”. Tổ chức đoàn các cấp nghiên cứu nâng cao chất lượng, hiệu quả các hình thức sinh hoạt chuyên đề: "Thanh niên với công tác ATVSLĐ”, "Thanh niên với văn hóa giao thông”, "Thanh niên tiến quân vào khoa học công nghệ”, "Thanh niên thi đua rèn đức, luyện tài, xung kích sáng tạo”, nâng cao việc chấp hành ý thức tổ chức kỷ luật cho đoàn viên thanh niên, gắn với xây dựng tổ chức Đoàn vững mạnh.

5. Đảng ủy Tập đoàn phối hợp với Đảng ủy TQN và các tổ chức đảng cấp trên cơ sở lãnh đạo thực hiện Nghị quyết này.

6. Giao cho Tổng giám đốc Tập đoàn, BCH Công đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam, BCH Đoàn TNCS HCM TQN, các cấp ủy Đảng trong các công ty con, đơn vị trực thuộc Tập đoàn xây dựng kế hoạch, chương trình để triển khai thực hiện Nghị quyết này.

7. Giao Ủy ban kiểm tra Đảng ủy, Văn phòng Đảng ủy Tập đoàn và các Ban chuyên môn của Tập đoàn hướng dẫn, kiểm tra, chỉ đạo thực hiện, tổng hợp báo cáo Ban Thường vụ Đảng ủy Tập đoàn./.

Nguồn tin: Đảng ủy TKV


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

 Ẩn/Hiện ý kiến

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Kỷ luật - Đồng tâm
THỐNG KÊ TRUY CẬP
  •   Đang truy cập 35
  •   Máy chủ tìm kiếm 3
  •   Khách viếng thăm 32
 
  •   Hôm nay 4,892
  •   Tháng hiện tại 169,594
  •   Tổng lượt truy cập 4,264,995
Tổng hợp kết quả SXKD
Tính đến ngày 10 tháng 12 năm 2017
- Than sản xuất: 55.157tấn/KH 150.000 tấn đạt 36,8 %
- Đào lò:
+) Đào lò CBSX:
211,80/KH 635m đạt 33,35%
+) Đào lò XDCB:0,0/KH 10m đạt 0%
- Chống xén: 217,20/KH 500m đạt 43,44%.
- Tiêu thụ: 49.711,694 tấn/KH 150.000 tấn đạt 33,14%
- Doanh thu: 46.819,56tr. đồng /KH 140.776,94tr. đồng đạt 33,26%.
 
      Với các chỉ tiêu chính như than sản xuất, Đào lò CBSX, chống xén, tiêu thụ và doanh thu Công ty đều thực hiện đạt theo kế hoạch thời gian../.